
Tên Việt Nam: May pặt/ Pặt
Tên Khoa học: Arundinaria sp4
Chi: Sặt (Arundinaria)
Mạy pặt là loài tre mọc tản, thân cây cao 1-3m, thẳng đứng, đường kính thân 1,5-2cm, vách thân dày 0,1-0,2cm, lóng dài 35-40cm.
Thân cây mẫu xanh vàng, trong thân có các vách trắng xếp sát nhau (tương tự như Mạy chỗ và Mạy reng) nhưng thưa hơn mạy chả. Cành phát triển ngay từ gần mặt đất; phía đưới có 1-2 cành, phía trên cỗ 3 cành, Mắt nhỏ lổi, có hai vòng lồi ở đốt khác với Măng dê là không có vòng trắng ổ đốt.
Bẹ mo mặt ngoài ở gốc có lông nâu, dày. Đáy dưới bẹ rạo tộng 6-8om, cao 12,5-22cm, đáy trên rộng 0,6-0,8cm; mép có lông đen dài, Phiến mo rộng 0,8-0,8cm, cao 5-5,5cm; hình mũfi giáo, hai mép có lông thưa. Tai mo rất thấp, có lông cứng dài đến 1,5cm. Lưỡi mo dài đến 0,2cm có răng cưa.
Phiến lá dài 22-25cm, rộng 3-3,5cm, gốc nhọn, 6-7 đôi gân lá. Bẹ lá không lông. Tai lá có lông dày, cứng, cao đến 0,5cm. Cuống lá dài 0,5-0,6cm.
May pặt có mùa ra măng vào xuân hè. Năm 2005 đã thu được hoa của loài cây này.
Mạy pặt mọc rải rác trong vùng rừng bị thoái hoá, cùng với Măng dê, Mạy lay và Mạy lay lo ở tỉnh Sơn La.