
Tên Việt Nam: Cơm lam
Tên khoa hoc: Cephlostachyum pergracile Munro/Schizostachyum pergracile (Munro) Majumdar
Chi: Cơm lam (Cephalostachyum)
Cơm lam là loài tre mọc cụm. Thân cây thẳng với ngọn rủ, cao 7-15m, đường kính 2,5-7cm, vách thân mỏng, màu xanh xám. Lóng dài 30-49cm, đốt thân hơi dày. Cành phát triển ở các đốt phía trên của thân. Mỗi đốt có nhiều cành có kích thước bằng nhau.
Bẹ mo cao 10-15cm, rộng 15-20cm, dày và giống da, màu nâu đỏ như đồng thau sáng bóng. Phiến mo hình trứng, hình tim, nhọn, rộng 5cm, bằng 1/2 chiều rộng của đỉnh trên bẹ mo. Lưỡi mo rất hẹp. Tai mo trải dài theo đỉnh của bẹ mo, hình thuôn hẹp, rộng 3-4mm.
Phiến lá hình thuôn hẹp, dài 30-35cm, rộng 2,5-3cm, cả hai mặt trên và dưới thô, gốc lá hình trứng. Gân lá 10 đôi.
Cơm lam ra hoa khá thường xuyên, đôi khi ra hoa đồng loạt trên diện rộng. Năm 1987, loài này ra hoa đồng loạt ở Thái Lan và tạo ra rất nhiều hạt, làm bùng nổ số lượng chuột hoang. Năm sau, số chuột này lại quay về phá hoại mùa màng.
Có thể nhân giống trồng bằng hạt, thân ngầm và gốc thân. Cây con cũng thường được thu từ rừng tự nhiên về trồng tại vườn nhà.
Loài có tác dụng nối tiếng nhất là được dùng để nẩu cơm lam, một đặc sản của vụng Tây Bắc và vì thế mà loài đã được mang tên Cơm lam. Thông thường gạo được nhồi vào các ống tre 1 năm tuổi để nấu cơm. Đôi khi cây còn được dùng cho xây dựng, đan lát. Đây là loài rất đặc trưng và nổi bật nên chúng tôi đã lấy tên loái đặt tên cho chi là Cơm lam thay thế cho tên trước đây của chi là Nứa vách dày.
Loài có phân bố rộng ở Mianma, Thái Lan, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) và Việt Nam. Chúng được trồng rộng rãi ở vùng Tây Bắc nước ta.



