
Tên Việt Nam: Tre mỡ Lạng Sơn/ Mạy pì
Tên khoa hoc: Dendrocalamus minor (McClure) Chia et Fung
Chi: Luồng (Dendrocalamus)
Cây mọc thành bụi gồm rất nhiều thân (cụm dày), có bụi có tới 40-50 thân. Thân Tre mỡ Lạng Sơn cao 8-10m, thẳng, đường kính 5-8cm, vách thân dày 0,8-1cm, ló sás„ 40-42cm. Khi non thân cây có màu xanh bóng, lúc già chuyển thành màu vàng nhạt. Thân non có nhiều phấn trắng (giống dùng phấn, song lóng thân ngắn hơn), mo rừng để lại vòng mo có nhiều lông nâu đen. Một cành to và nhiều cành nhỏ dài và cong xuống
Mo thân dạng tam giác hay thuôn, có đầu thót nhọn và ngắn, có nhiều lông màu đen thưa ở nửa dưới của đáy mo, hai mép có lông màu nâu. Đáy dưới bẹ mo hơi lượn sáng, rông 13-16cm, cao 25-30cm: đáy trên lõm, rộng 2-3cm. Phiến mo dạng dải, mặt trong ở đáy có nhiều lông nâu dày, hai mép có lông thưa dài 5-8cm, rộng 1-1,5cm. Lưỡi mo nhô cao ở hai mép và thấp ở giữa, có lông dạng bản cứng cao 0,8-1cm.
Lá dạng dải, thuôn dài, mặt trên xanh đậm, mặt dưới hơi bạc, có lông min và thựa hai mép Ở đáy cong xuống. Phiến lá dài 30-36cm, rộng 5-5,8cm; gốc lá nhọn, đay lệch. gán lá 7-9 đôi. Lưỡi lá cao đến 0,1cm. Bẹ lá có lông ở hai mép.
Mùa ra măng vào các tháng 8-9. Măng lúc non có màu xanh, khi già chuyển san, mau nâu hồng.
Đôi khi cây được trồng ở chân và sườn núi đá vôi nơi còn nhiều đất, Loài có thể chịu được đất dốc. Do có vách thân dày, dẻo, dễ uốn nên Tre mỡ Lạng Sơn được sử dụng rộng rãi trong xây dựng và đan lát đồ gia dụng, đôi khi còn dùng làm tăm hương. Măng ăn ngon.
Tre mỡ có phân bố ở Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam và đã được trồng rộng rãi ở các tỉnh biên giới từ lâu đời, đặc biệt là hai tỉnh Lạng Sơn và Cao Bằng.